Trang chủ
Giới thiệu
Thông báo
Ý nghĩa thương hiệu
Tầm nhìn và sứ mệnh
Sản phẩm
Nhựa đường
FO 3.0S, FO3.5S, RFO thay thế
HFO nhập khẩu
FOR cao su
Dầu điều
Sàn MXV
Dầu DO
Sản phẩm dầu nhớt
Viên nén
Tin tức
Thương hiệu
Liên hệ
không có sản phẩm nào
Trang chủ / Tin tức / Ba khoảng cách giá phía sau cú tăng sốc của giá dầu diesel
Ba khoảng cách giá phía sau cú tăng sốc của giá dầu diesel 10/09/2026 - 21:38

Ba khoảng cách giá phía sau cú tăng sốc của giá dầu diesel

 

Vietstock - Ba khoảng cách giá phía sau cú tăng sốc của giá dầu diesel

Cú sốc eo biển Hormuz cuối tháng 2/2026 đã đẩy thị trường dầu vào một trạng thái dị biệt, nơi thông điệp đắt giá nhất không nằm ở đỉnh giá dầu thô mà nằm ở ba khoảng cách giá then chốt.

Từ cơn khát hàng giao ngay đẩy chênh lệch kỳ hạn vượt cả đỉnh của cú sốc 2022, rủi ro vận tải kéo giãn chênh lệch giá Brent - WTI, cho đến mốc 100 USD/thùng lịch sử của biên lợi nhuận lọc dầu diesel. Tất cả bóc trần thực trạng về việc thế giới không thiếu dầu thô tới mức cạn kiệt, mà đang phải trả những cái giá cắt cổ để sở hữu hàng hóa ngay lập tức, giữa nút thắt trầm trọng về năng lực chế biến.

Bối cảnh nền kích hoạt cả ba khoảng cách giá trên là sự đứt gãy chuỗi cung ứng khởi phát từ cuối tháng 2/2026. Eo biển Hormuz - huyết mạch luân chuyển 20 triệu thùng dầu mỗi ngày, tương đương 1/5 lượng dầu giao thương toàn cầu - bị gián đoạn từ ngày 28/02, kéo theo loạt tuyên bố bất khả kháng từ Qatar, Kuwait và Iraq.

Bước sang tháng 7/2026, dòng chảy đã phục hồi phần nào nhưng lỗ hổng vẫn lớn. Theo báo cáo thị trường dầu mỏ tháng 8/2026 của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), khoảng 8.3 triệu thùng/ngày sản lượng tại vùng Vịnh còn đình trệ, và nguồn cung toàn cầu vẫn thấp hơn 6.3 triệu thùng/ngày so với cùng kỳ. Hệ quả là tính tới tháng 8, tồn kho dầu thế giới đã vơi đi 410 triệu thùng kể từ cuối tháng 2, riêng tháng 7 giảm tới 69 triệu thùng.

Dù thị trường luôn bám sát mức giá tham chiếu chung cho dầu thô nhưng con số đó thực chất chỉ giải quyết được bề nổi về thùng dầu Biển Bắc giao ngay hôm nay đáng giá bao nhiêu chứ không cho thấy định giá từ thị trường đối với những lô hàng giao vào tháng 3/2027, cũng không phản ánh chi phí của diesel thành phẩm. Năm 2026, ba mức chênh lệch giá này đã giãn ra đáng kể, phơi bày những điểm đứt gãy trên chuỗi cung ứng.

Khoảng cách 1: Hàng giao ngay và hàng kỳ hạn - cái giá của việc có hàng ngay

Ngày 02/04/2026, Dated Brent - thước đo giá dầu thô vật chất giao ngay tại Biển Bắc do S&P Global Commodity Insights định giá - chính thức xuyên thủng mốc 140 USD/thùng. Chỉ 5 ngày sau (7/4), chỉ báo này thiết lập đỉnh cao nhất mọi thời đại ở mức 144.42 USD/thùng, xô đổ kỷ lục lịch sử của năm 2008. Sức nặng của mức giá này không thể xem nhẹ, bởi theo dữ liệu từ Energy Intelligence thông qua Sở giao dịch ICE, khoảng 78% lượng dầu thô xuất khẩu trên toàn cầu đang lấy hệ thống Brent làm tham chiếu.

Tuy nhiên, điều bất ổn nằm ở độ chênh lệch giữa hàng thực và hợp đồng tương lai. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ (EIA), vào giai đoạn đầu tháng 4/2026, giá Dated Brent đã đắt hơn hợp đồng tương lai Brent tháng gần nhất tới hơn 25 USD/thùng. Ở điều kiện giao thương bình thường, chênh lệch giữa hai mức giá này thường rất hẹp. EIA quy nguyên nhân cho tình trạng khan hiếm cực đoan trong ngắn hạn, kể từ khi tuyến vận chuyển qua Hormuz bị đình trệ.

Xét giai đoạn 2024-2026, chênh lệch giữa hợp đồng Brent tháng gần nhất và kỳ hạn 7 tháng (theo giá đóng cửa cuối tháng) cho thấy thị trường luôn ở trạng thái backwardation, nhưng độ dốc đã thay đổi chóng mặt.

Vào năm 2024-2025, chênh lệch này dao động 0.68-4.93 USD/thùng. Sang năm 2026, chỉ báo vọt lên đỉnh 37.34 USD cuối tháng 3, thu hẹp về 0.74 USD cuối tháng 6 khi hoạt động vận chuyển qua eo biển Hormuz được khôi phục một phần, rồi nới rộng lại lên 14.91 USD/thùng trong phiên 3/9.

Ở thước đo rộng hơn, độ dốc còn lớn hơn nhiều. Theo Parameta Solutions, chênh lệch giữa hợp đồng Brent tháng gần nhất và hợp đồng kỳ hạn 12 tháng chạm khoảng 35 USD/thùng đầu tháng 4/2026, nới ra từ 10 USD chỉ 4 tuần trước đó - vượt cả mức dịch chuyển hồi tháng 6/2022 sau khi xung đột Nga – Ukraine nổ ra, và là một trong những đợt backwardation dốc nhất trong dữ liệu Brent hiện đại.

Con số có thể giải thích vì sao đường cong kỳ hạn lại dốc đến vậy. Theo IEA, công suất dự phòng hiệu dụng của OPEC+ tính đến tháng 7/2026 chỉ còn 1.09 triệu thùng/ngày. Sản lượng dầu thô của khối đạt 34.53 triệu thùng/ngày trong tháng 7, thấp hơn 6.02 triệu thùng/ngày so với hạn ngạch.

Hai con số này thoạt nghe có vẻ mâu thuẫn, hụt hạn ngạch tới 6 triệu thùng/ngày đồng nghĩa dư địa tăng sản lượng lẽ ra phải còn rất nhiều. Tuy nhiên, công suất dự phòng hiệu dụng chỉ tính lượng dầu có thể đưa ra thị trường ngay lập tức. Phần lớn công suất nhàn rỗi nằm ở vùng Vịnh và phụ thuộc vào tuyến vận tải qua Hormuz, do đó chúng chỉ tồn tại trên giấy tờ chứ không thể bốc xếp lên tàu. Khi lớp đệm khả dụng gần cạn, mọi cú sốc cung cầu đều phản ánh trực tiếp vào giá hàng giao ngay. Đó chính là nguyên nhân tạo ra đoạn dốc đứng ở đầu đường cong kỳ hạn.

Khoảng cách 2: Brent và WTI - Khi rủi ro logistics được định giá vào thùng dầu

Brent và WTI là hai chuẩn dầu thô có phẩm cấp tương đương nhưng khác biệt căn bản về địa điểm giao nhận. Giá Brent thường cao hơn WTI, và phần chênh lệch này chính là thước đo phản ánh chi phí cũng như rủi ro vận tải hàng hải.

Dữ liệu từ giá đóng cửa của hợp đồng tháng gần nhất cho thấy, chênh lệch Brent - WTI dao động quanh 3-6 USD/thùng trong hai năm 2024 và 2025, khép lại năm 2025 ở mức 3.43 USD. Tuy nhiên, cục diện đảo chiều dữ dội trong năm 2026, khoảng cách vọt lên 16.97 USD vào cuối tháng 3 - gấp khoảng 4 lần mặt bằng nhiều năm - trước khi hạ nhiệt dần về 4.22 USD vào ngày 03/09.

Chi phí vận tải là mắt xích trực tiếp chi phối biến động này. Ngày 03/03/2026, cước thuê tàu chở dầu siêu lớn thiết lập mức cao nhất mọi thời đại, sau khi một số công ty bảo hiểm ngừng cung cấp bảo hiểm rủi ro chiến tranh cho tuyến đường qua Trung Đông. Đến tháng 7, theo hãng môi giới bảo hiểm Marsh, phí bảo hiểm cho tàu đi qua khu vực vẫn tiếp tục tăng.

Thông qua chênh lệch Brent và WTI, thị trường đang định giá trực tiếp rủi ro của tuyến vận tải. WTI được giao nhận trong nội địa Mỹ nên không phải đi qua eo biển Hormuz, và vì thế không mang phần rủi ro của tuyến này như Brent - dù giá của nó vẫn phản ứng với mọi tin tức từ khu vực. Ngược lại, Brent nằm trong chuỗi cung ứng đường biển, nơi cước tàu và phí bảo hiểm tăng theo mức độ căng thẳng.

Khoảng cách 3: Dầu thô và thành phẩm - nút thắt tại các nhà máy lọc dầu

Cú sốc lớn nằm ở crack spread dầu diesel tại Mỹ - chênh lệch giữa chi phí dầu thô nguyên liệu đầu vào và giá bán diesel thành phẩm.

Nếu như xuyên suốt hai năm 2024-2025 khoảng chênh dao động quanh vùng 21-41 USD/thùng, thì sang năm 2026 đồ thị này dựng đứng. Số liệu bứt tốc từ 73.5 USD (cuối tháng 3) lên 88.4 USD (cuối tháng 7), chạm 103 USD (cuối tháng 8) và neo ở 101.6 USD trong phiên giao dịch ngày 03/09 - mức cao nhất mọi thời đại (tính theo giá đóng cửa của hợp đồng diesel ULSD (New York) so với dầu thô WTI). Nói cách khác, giá trị gia tăng mà một nhà máy lọc dầu thu được khi chế biến một thùng dầu thô thành diesel đã phình to gấp 3.5 lần so với hai năm trước và vẫn đang mở rộng.

Theo báo cáo của EIA, trong tuần kết thúc ngày 28/08/2026, các nhà máy lọc dầu tại Mỹ đã phải hoạt động gần như kín tải, chế biến tới 17.5 triệu thùng/ngày (tương đương 98% công suất). Dù vậy, tồn kho sản phẩm chưng cất (distillate) vẫn thấp hơn 14% và tồn kho xăng thấp hơn 6% so với bình quân 5 năm. Đáng chú ý, tính đến giữa tháng 8, tồn kho distillate chỉ đạt khoảng 103 triệu thùng, thấp nhất ghi nhận trong tháng 8 kể từ năm 1951.

Nguồn cung thành phẩm đang phải đối mặt với áp lực từ nhiều phía cùng lúc. Công suất lọc dầu của Nga sụt giảm sau các cuộc tấn công bằng thiết bị bay không người lái, kéo theo việc nước này ngừng xuất khẩu dầu diesel từ tháng 7/2026. Cùng lúc, số liệu IEA cho thấy các nhà máy lọc dầu tại vùng Vịnh vẫn chưa thể khởi động lại. Tình trạng này cộng dồn với việc ngành lọc dầu toàn cầu đã đóng cửa vĩnh viễn một phần công suất từ thời COVID-19 trong khi có rất ít dự án mới được triển khai. Hệ quả là châu Âu và Mỹ Latinh buộc phải tăng cường thu mua từ Mỹ, đẩy khối lượng xuất khẩu sản phẩm lọc dầu của nước này lên mức kỷ lục.

Ở chiều ngược lại, IEA dự báo nhu cầu tiêu thụ dầu toàn cầu năm 2026 sẽ giảm 1.6 triệu thùng/ngày. Tác động tới người tiêu dùng đã thể hiện rõ qua mặt bằng giá. Tính đến cuối tháng 8/2026, giá xăng bán lẻ tại Mỹ chạm mức 4.09 USD/gallon (tăng 38% so với trước xung đột), trong khi dầu diesel vọt lên 5.61 USD/gallon (tăng gần 50%).

Nút thắt của thị trường dầu hiện nay nghiêng về khâu chế biến hơn là khâu khai thác. Thế giới thiếu dầu thô, nhưng áp lực lớn còn đến từ sự căng thẳng trong công suất chế biến dầu thô thành diesel. Điều này dẫn tới sự gia tăng của crack spread.

Nhìn chung, cả ba khoảng cách giá đều đang phác họa một thị trường bị siết chặt trong hiện tại, sự khan hiếm đang dồn vào lượng hàng có sẵn, vào các tuyến vận chuyển an toàn và vào những sản phẩm đã qua chế biến.

ThS. Nguyễn Thị Thương

Bài viết tương tự
Giá xăng, dầu đồng loạt tăng từ 15h ngày 10/9
Dầu Brent tăng hơn 3% lên cao nhất kể từ tháng 5/2026
Goldman: Dầu Brent có thể vượt 120 USD khi chiến sự Mỹ-Iran kéo dài